Những ngày cắm bản mở đầu

Hưởng thụ
Rate this post

Trời cuối xuân, nhưng trời vẫn lạnh. Nhiệt độ liên tục xuống dưới 5 độ C. Trời lạnh như cắt da cắt thịt. Cái lạnh dường như muốn xé toạc từng mảng áo mỏng manh của lũ trẻ. Tôi lặng lẽ gom củi khô để đốt lửa lớn giữa sân trường. Các học sinh vây quanh họ với những bàn tay đỏ lạnh.

Ngôi làng tồi tàn và nghèo nàn

Hơi ấm của ánh lửa làm đôi má phúng phính của lũ trẻ ửng hồng. Hiệp ranh mãnh: “Cô ơi, lấy sắn nướng thôi!”.

Chưa nói hết câu, Hiệp đã bỏ chạy. Cái bóng nhỏ xíu đã biến mất trong màn sương mờ ảo. Một lúc sau, Hiệp chạy lại, tay cầm mấy củ sắn mập mạp. Lũ trẻ xúm xít lại sắn vào giữa đống than hồng đang cháy. Mùi sắn nướng quyện với mùi khói tạo nên một mùi thơm ngào ngạt. Nhìn những khuôn mặt ửng hồng, những cái miệng nhoẻn miệng nhai khoai mì ngon lành của các em học sinh, tôi chợt nhớ lại những ngày còn thơ bé mở trường, bám lớp cách đây gần 30 năm.

Thời đó, người Dao Bà Rá nghèo lắm. Cái đói, cái nghèo dai như đỉa kéo dài từ đời ông sang đời cha, khiến bản làng vốn đã xa lại càng thêm buồn tẻ. Bốn mùa, ngôi làng chìm trong màn sương mờ ảo. Để đến được nơi này, chỉ có một con đường duy nhất mỏng như sợi chỉ nằm vắt ngang qua những sườn đồi đầy khóm mọc um tùm và cỏ dại chằng chịt như muốn níu bước chân người qua lại. Vào mùa khô, nắng nóng, gió thổi khiến bụi bay mù trời; Vào mùa mưa, trơn như bôi mỡ.

Bao đời nay, người dân nơi đây luôn “khát chữ” bởi chẳng ai muốn gắn đời mình với chốn thâm sơn cùng cốc này. Rất nhiều người quyết định đến đây nhận việc cũng “một đi không trở lại”.

Tác giả Bùi Thị Hồng Vân

Những ngày cắm đầu khai trường - Ảnh 2.

Học sinh thôn Đào Bá Rá, xã Hùng Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình bên bếp lửa nướng sắn

Điểm trường ở lưng chừng núi

Tôi sinh ra ở một thành phố nhỏ. Sau khi tốt nghiệp sư phạm, tôi nhận quyết định đi dạy khi vừa tròn 21 tuổi.

Tôi và các bạn bước vào trường trong một ngày mưa. Đất dính và trơn trượt khiến chúng tôi không thể nhấc chân lên được, nên chúng tôi phải tháo dép, xách trên tay. Hai bên đường, những thân cây nặng trĩu nước sà xuống đập vào mặt lạnh tanh. Những kẻ túm lá dưới mưa nhảy cẫng lên, bám lấy chân và quần áo.

Sau nửa ngày đi bộ, mỏi chân và gió thoảng bên tai, trường học nơi tôi nhận công tác cũng xuất hiện. Trước mặt tôi là dãy nhà thấp nằm lọt thỏm giữa rừng trúc um tùm, xanh mướt. Những chiếc lá xám xịt nhuốm màu thời gian. Từng mảng tường loang lổ, loang lổ như chiếc áo được vá. Chúng tôi được chào đón bởi trưởng bản và một số học sinh người Dao với chiếc mũi xanh thò ra. Những đứa trẻ nhìn thầy trò với ánh mắt ngơ ngác.

Đêm đầu tiên ở trường mới, nghe tiếng cú nặng trĩu bên gốc cây đa sau trường, mùi ẩm mốc, mùi ngôi nhà lâu ngày không có người ở xộc vào mũi, cộng thêm nỗi nhớ người thân. và bạn bè khiến tôi cảm thấy như tôi Nước mắt tôi không ngừng rơi. Khó khăn vô cùng, tôi tự ru mình vào giấc ngủ mơ màng, trằn trọc.

Sáng hôm sau, tôi bị đánh thức bởi một giọng nói gọi, “Cô ơi!” nhát. Vài cô nương xộc xệch dựa vào cánh cửa với đôi mắt trong veo. Lũ trẻ cho tôi mấy cái bánh gói bằng lá dong cong như sừng trâu, vài cọng măng trắng trong túi vải.

Một bé gái ngập ngừng: “Mẹ bảo mang đồ ăn cho đỡ đau bụng”. Nghe con nhỏ nói vậy, tôi bỗng thấy có gì đó trào lên và nghẹn lại trong cổ họng. Tôi thầm nghĩ: “Nếu mình ra đi như bao người khác thì điều gì sẽ xảy ra với những đứa trẻ ở đây? Bao giờ các cháu mới được cắp sách đến trường? Đến bao giờ cái làng nhỏ này mới xóa đói giảm nghèo?”.

Những ngày cắm bản khai trường - Ảnh 3.

Thầy và trò điểm trường thôn Đào Bà Rá

Ngày đẹp trời

Những ngày sau đó, ngôi trường như bừng tỉnh bởi tiếng cuốc xẻng, tiếng cười nói ríu rít của lũ trẻ. Thầy trò chúng ta cùng nhau dọn dẹp vệ sinh trường lớp.

Tôi vào đơn xin hoa mười giờ, hoa mào gà đỏ thắm trồng ở các rãnh xung quanh trường. Khi trường học sạch đẹp, sáng sủa, tôi cùng các đồng nghiệp đi hết nhà này đến nhà khác để đón học sinh vào lớp.

Lớp học vắng lặng, cỏ cây mọc um tùm ngày nào giờ vang lên tiếng bài vở của lũ trẻ. Tiếng nô đùa của lũ trẻ xua tan đi sự tĩnh lặng, u ám, âm u vốn có của núi rừng.

Những lúc rảnh rỗi, tôi lại theo lũ học trò ra đồng ngô hay ngồi nhặt trứng rận, bắt những con rận to ẩn sâu trong kẽ tóc của mấy đứa nhỏ. Chiều đến, tôi cặm cụi vá lại chiếc quần bị rách của mình, mang lại những chiếc cúc áo đã bị rách khi lũ trẻ đang chơi đùa. Mỗi lần ra thành phố, tôi đều mang theo một túi dầu gội đầu. Tôi dạy các em cách tắm rửa bằng xà phòng, vệ sinh thân thể, phòng tránh các bệnh ngoài da.

Ngoài giờ học, nếu không phải cùng cha mẹ lên rẫy, các em nhỏ luôn gắn bó với thầy cô. Họ kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện trên trời dưới đất bằng tiếng Kinh thuần túy, thỉnh thoảng xen vào vài tiếng Dao. Tiếng cười giòn tan xua tan đi sự hiu hắt, hiu quạnh của ngôi trường hiu quạnh giữa núi rừng. Đối với trẻ, cô giáo không chỉ là người dạy chữ mà còn là người chị, người mẹ, người biết tất cả để trẻ giải đáp mọi thắc mắc của trẻ.

Sự khắc nghiệt và đơn độc của vùng đất biệt lập giữa núi rừng càng khiến tình thầy trò bền chặt hơn. Đó là những đêm đông lạnh cắt da, cắt thịt, cậu học trò cũ nay là trưởng bản dẫn chúng tôi băng rừng, đi từng nhà để đón học sinh tan học. Đó là những ngày giông tố nổi lên, gió thổi tung mái trường nhỏ, mọi người xúm vào đan, lợp lại giúp học sinh không bị gián đoạn việc học. Đó là những ngày vui của làng như lễ Tốt nghiệp, lễ chay, Tết nhảy …, người dân đến tận nơi để mời thầy. Kết thúc ngày vui, họ không quên dúi vào tay chúng tôi những chiếc bánh giầy trắng mịn, thơm mùi vừng. Những món quà nhỏ nhưng ấm áp nơi đây luôn là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với những người thầy như chúng tôi.

Dệt thời gian thoáng qua được thực hiện. Mới đó mà đã gần 30 năm tôi gắn bó với ngôi trường lẻ, gắn bó với bản Dao Bà Rá, với những đứa trẻ xinh như thiên thần nhưng chịu nhiều thiệt thòi do cuộc sống biệt lập nơi núi rừng. Mái tóc xanh một thời của cô giờ đã bạc. Mỗi mùa khai giảng, nhiều ông bố bà mẹ đưa con đến trường sau khi chào chúng tôi đã nhẹ nhàng nhắc nhở con: “Đây là cô giáo đã dạy chúng con”. Những lúc như thế này, tôi thấy trong lòng có chút ấm áp.

Hoa núi kiên cường

Đường vào thôn Bà Rá nay đã được bê tông hóa. Không còn những ngày tháng những cô cậu học trò đội mưa, lấm lem bùn đất để đến trường nữa. Ngôi trường mái tranh dột nát, trống trải cũng được xây mới khang trang. Những mái tranh ẩm thấp nép mình trong sương đã không còn. Thay vào đó là những ngôi nhà xây kiên cố, mái ngói hồng như những bông hoa nổi lên giữa rừng xanh.

Người dân có cuộc sống sung túc và đầy đủ hơn trước rất nhiều. Đêm đêm bên bếp lửa hồng, các cụ vẫn thủ thỉ với con cháu về những ngày khốn khó của dân làng. Họ kể về chúng tôi, những người đầu tiên đến làng, với tình yêu thương và sự kính trọng. Từ lâu, họ gọi chúng tôi bằng cái tên trìu mến: “Cô giáo làng”.

Với người dân Ba Rá, thầy cô là những bông hoa núi kiên cường đang góp một phần nhỏ bé mang lại ánh sáng văn hóa cho người dân bản Dao, làm thay đổi vùng đất nơi đây.

Thông báo từ Ban tổ chức

Sau bài viết này, Ban tổ chức sẽ đăng bài dự thi cuối cùng trên số báo ra ngày 8/7, khép lại cuộc thi “Từ trong ký ức” lần thứ 2. Ban Tổ chức và Ban Giám khảo sẽ chấm và lựa chọn các tác phẩm dự thi. sơ khảo, chung khảo và sẽ được công bố và phát vào tuần cuối cùng của tháng 7 năm 2022. Cảm ơn bạn viết, bạn đọc đã tham gia cuộc thi ý nghĩa này.

ĐƠN VỊ CÔNG TY

Những ngày cắm bản khai trường - Ảnh 6.
Những ngày cắm đầu khai trường - Ảnh 7.

Leave a Reply

Your email address will not be published.