Thực hành – Thực hành – Giá trị giáo dục

Rate this post

Những đóng góp to lớn và ý nghĩa của Ngài là những bài học kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ Tăng Ni trẻ Việt Nam noi theo, góp phần đưa Phật giáo Việt Nam không ngừng phát triển!

Tiểu sử cố Trưởng lão HT.Thích Minh Châu:

Hòa thượng Thích Minh Châu

– Ông sinh năm 1918 trong một gia đình nho học ở Nghệ An.

– 1939 tốt nghiệp Cao đẳng Tiểu học Đông Dương

– Năm 1940 đỗ tú tài toàn phần tại trường Khải Định – Huế (nay là trường Quốc Học)

– Từ năm 1936, ông làm Bí thư Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên, một năm sau thì từ chức vì thấy người ta bị xử oan.

– Từ năm 1936, Ngài làm chánh thư ký Hội Phong trào Phật học và đồng sáng lập Đoàn Thanh niên Phật học đường và Gia đình Phật tử (tiền thân của Gia đình Phật tử sau này).

– Xuất gia năm 1946 và năm 1949 thọ giới tại chùa Báo Quốc, Huế

1951 – Hiệu trưởng Trường Trung học Bồ Đề, Huế. Tham dự Hội nghị thống nhất Phật tử ba miền tại chùa Từ Đàm.

– Năm 1952 sang Sri Lanka du học.

– Năm 1955 từ Sri Lanka đến Ấn Độ để học tập

1957 gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

– 1958 đậu MA; Năm 1961, ông giành được bằng Tiến sĩ. với chủ đề “So sánh Trung Hoa Madhyamaka Sutra and Pali Mantra Sutra …” (The Chinese Madhyama-Āgama and the Pāli Majjhima-Nikāya)

– 1962-63: Giảng viên đại học. Bihar, Ấn Độ

Chân dung Hòa thượng Thích Minh Châu.

Tưởng nhớ Hòa thượng Thích Minh Châu – Đường Tăng Việt Nam

– Tháng 4 năm 1964 về nước

– 1964-65: Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phật học Sài Gòn (tại chùa Pháp Hội)

– 1966-75: Hiệu trưởng Trường Đại học Vạn Hạnh kiêm Tổng Vụ trưởng Vụ Văn hóa – Giáo dục (Giáo hội Phật giáo VNTN)

– 1975-76: Chuyển về Phật viện Vạn Hạnh (nay là Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ sở I, 750 Nguyễn Kiệm, Phường 4, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh)

– 1981 và 1984: Hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. HCM.

– Năm 1989: Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và 1991 là Trưởng ban Chỉ đạo Dịch thuật và Xuất bản Đại tạng kinh Việt Nam.

– Về đối ngoại: Từ 1965-1975 về nước: Đi nước ngoài 4 lần; và sau khi đất nước thống nhất, từ năm 1982-1996: đi nước ngoài 20 lần.

– Về dịch thuật và sáng tác: 1) Ngài đã dịch phần lớn Kinh tạng Pali, được coi là cội gốc nguyên thủy của Phật giáo, và Bộ Luận tạng, một bộ luận tiếng Pali quan trọng giúp làm sáng tỏ giáo lý của Đức Phật. ; 2) Ông đã biên soạn 5 cuốn sách tiếng Anh và 21 cuốn sách tiếng Việt.

– 2006 Ông lui về hậu phương an dưỡng tuổi già.

– Đúng vào mùa Vu lan PL.2556, vào lúc 9h ngày 1-9-2012 (tức 16-7 âm lịch), Ngài đã nhẹ nhàng phóng sinh tại Thiền viện Vạn Hạnh, tại thế 95 năm 64 vòng. .

Qua phần tóm tắt trên, có thể thấy sức mạnh đạo đức và những đóng góp của ông trên phương diện giáo dục như sau:

1. Người đã chỉ ra giá trị thực của con người, đó là rèn luyện và học tập. Anh ấy hiền lành, hay cười. Tuy nhiên, năm 1994, khi làm trưởng đoàn Phật tử Việt Nam sang thăm Ấn Độ, đứng trước cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo, ông đã khóc nức nở như một đứa trẻ thơ và được gặp lại người cha già của mình! Trước khi đi, ông không rành tiếng Anh, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã vượt qua, cố gắng và bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Phật học bằng ngôn ngữ này.

Anh đã chứng tỏ giá trị đích thực của con người, đó là rèn luyện và học tập.

Anh đã chứng tỏ giá trị đích thực của con người, đó là rèn luyện và học tập.

2. Chủ trương của ông là giáo dục một con người toàn diện, là sự kết hợp giữa kiến ​​thức thế gian và đạo đức Phật giáo thông qua kinh nghiệm thiền định. Năm 1973 tại Đại học Vạn Hạnh, Thầy mở lớp dạy thiền miễn phí cho sinh viên và tôi là một trong những sinh viên đầu tiên theo học và may mắn được thầy làm trợ lý sau đó ít lâu về môn tu tập này.

3. Bản dịch Kinh điển Pali. Có thể nói đây là lời dạy chân lý nguyên thủy của Đức Phật Thích Ca; qua đó người học cảm thấy dễ hiểu với lời dạy thanh tịnh của Đức Phật, khác hẳn với bộ Hán tạng mà mình đã cảm nhận ở quê nhà trước khi xuất ngoại du học. Ông được ví như ngài Huyền Trang ở Trung Quốc đi thỉnh kinh.

4. Góp phần tạo nên sự độc lập về văn hóa về phương diện Phật giáo. Sau năm 1964, với Kinh tạng Pali, ông đã dịch thẳng ra tiếng Việt không qua trung gian bằng chữ Hán. Đây là điều mà trước đây các thiền sư Việt Nam như thời Trần đã cố gắng sáng tác thơ Phật bằng chữ Nôm để thể hiện sự độc lập văn hóa của đất nước với ngoại bang!

5. Ông chủ trương giáo dục tất cả các truyền thống Phật giáo: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo bộ phái (còn gọi là Tiểu thừa) và Phật giáo Đại thừa. Sau đó, từ năm 2006 trở đi, HVPG TP. HCM đã chia thành các khoa chuyên biệt, khác với hướng đi đầu tiên của anh. Và ở trong nước, ông không phân biệt Phật giáo Bắc, Trung, Nam.

6. Cuối cùng, những đóng góp to lớn và ý nghĩa trên đây của Ngài sẽ là những bài học quý báu cho các thế hệ Tăng Ni trẻ Việt Nam noi theo, góp phần xây dựng một nền Phật giáo Việt Nam không ngừng phát triển. phát triển tốt đẹp!

Leave a Comment